Phạm Văn Nghệ
| Tuổi | 22 tuổi theo đúng chữ trong sổ |
|---|---|
| Quê quán | An Kỳ, Tịnh Kỳ, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi |
| Đơn vị | D48 Quảng Ngãi |
| Cấp bậc | 4/1 A phó |
| Ngày hy sinh | 31/5/1973 Ngày ghi trong sổ là NGÀY MẤT TẠI BỆNH XÁ, theo lời y sĩ Đào Ngọc Thạnh có thể khác ngày hy sinh ghi trong giấy tờ chính thức — thời chiến có khi mất liên lạc trước lúc vào viện. Địa danh giữ nguyên tên cũ như trong sổ. |
| Trường hợp hy sinh | vết thương thấu não |
| Nơi mai táng ban đầu | khu A đồi thông tin (đồi T2) Đây là chỗ đơn vị chôn cất ngay sau khi hy sinh, trước khi quy tập. Không phải nơi phần mộ nằm hiện nay. |
Nguyên văn trong sổ
113. Phạm Văn Nghệ (22 tuổi) vào chiến trường Quảng Ngãi tháng 3-1972, cấp bậc 4/1 A phó, đơn vị công tác D48 Quảng Ngãi, hi sinh ngày 31-5-1973, do vết thương thấu não. Chôn tại khu A đồi thông tin (đồi T2). Quê quán An Kỳ, Tịnh Kỳ, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi. Cha Phạm Văn Liệu.
Nguồn: Sổ liệt sĩ Bệnh xá B23 (1967–1974) — y sĩ Đào Ngọc Thạnh, do Báo Tuổi Trẻ chép nguyên văn từ sổ của y sĩ Đào Ngọc Thạnh lập · dòng 114 (số thứ tự 113).
Tra tiếp bên kho phần mộ
Danh sách này không cho biết phần mộ nằm ở đâu. Bấm vào đây để tìm tên “Phạm Văn Nghệ” trong kho phần mộ, rồi tự đối chiếu:
→ Tìm “Phạm Văn Nghệ” trong kho phần mộKhi đối chiếu, xin xem kỹ ngày hy sinh và vùng đất. Trùng họ tên, trùng cả năm sinh và năm hy sinh vẫn rất thường là hai người khác nhau — nhất là khi nơi mai táng ban đầu ở một miền, còn nghĩa trang lại ở miền khác.